Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Quản lý khai sinh, khai tử còn cùng đọc lại hạn chế vì… chưa có luật.

Từ đó đến nay, cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình và các luật liên hệ khác, Chính phủ đã ban hành tổng cộng 8 Nghị định điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch, bao gồm cả hộ tịch trong nước và hộ tịch có nguyên tố nước ngoài

Quản lý khai sinh, khai tử còn hạn chế vì… chưa có luật

Thứ hai, luật pháp hiện hành tuy đã có sự phân cấp mạnh việc đăng ký hộ tịch cho chính quyền cơ sở, nhưng chưa triệt để. Ảnh minh họa  Hộ tịch: vấn đề được mọi chế độ quan hoài  Các sự kiện hộ tịch cơ bản của mỗi con người từ khi sinh ra đến khi chết đều được đăng ký, bao gồm: khai sinh, hôn phối, ly hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, đổi thay, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, khai tử… Ở nước ta, vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch có lịch sử từ thời nhà Trần.

000 quyển sổ hộ tịch, trong đó: Sổ đăng ký khai sinh 680.

Điều đó cho thấy công tác hộ tịch đóng vai trò khôn xiết quan yếu và luôn phải được duy trì trong bất cứ cảnh ngộ nào. , Nên đến nay hệ thống sổ hộ tịch là khá lớn. , Gây bất ổn về mặt tâm lý và bất cập khi dùng. Mặt khác, các sự kiện hộ tịch của một người được đăng ký ở nhiều nơi, nhiều cấp, ở trong nước và cả ở nước ngoài, đã dẫn đến tình trạng dữ liệu hộ tịch bị phân tán, không xâu chuỗi, kết nối được với nhau; cơ quan đăng ký hộ tịch không quản lý được đầy đủ các dữ liệu hộ tịch cá nhân, không nắm được sự di, biến động về hộ tịch trong địa bàn dẫn đến việc rà thông tin hộ tịch của cá nhân.

Việc tra khảo, phá hoang thông tin hộ tịch để phục vụ yêu cầu của người dân và cơ quan, tổ chức trong nhiều trường hợp không đáp ứng được, nhất là trong điều kiện chưa có cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

Dự thảo Luật Hộ tịch quy định nội dung, nguyên tắc đăng ký hộ tịch; quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch; thẩm quyền, thủ tục đăng ký, cấp xác nhận hộ tịch; cơ sở dữ liệu hộ tịch; Hộ tịch viên; trách nhiệm của cơ quan quốc gia trong quản lý hộ tịch.

Tính đến tháng 6/2012, trên cả nước hiện đang lưu giữ gần 1. V. Chính phủ đang hấp thu các quan điểm góp ý, chỉnh lý dự thảo Luật Hộ tịch nhằm tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định và thống nhất cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, khắc phục những tồn tại, bất cập và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác này theo hướng chuyên nghiệp, đương đại, thích hợp với yêu cầu phát triển tổ quốc trong thời kỳ mới.

Hiện thời vẫn tồn tại 03 cấp (tỉnh, huyện, xã) có thẩm quyền đăng ký hộ tịch, dẫn đến chồng chéo giữa chức năng quản lý và đăng ký hộ tịch. Bên cạnh đó, trên mặt quốc tế, trong nhiều trường hợp, giấy má hộ tịch chưa có sự tin cao đối với cơ quan có thẩm quyền nước ngoài; một số nước chưa tin giấy má hộ tịch của Việt Nam.

Thứ ba, việc tồn tại nhiều loại sổ sách, giấy tờ về hộ tịch, gây nhiều sức ép trong việc lưu giữ, bảo quản và sử dụng. 738 quyển; Sổ đăng ký khai tử 352. Cũng theo nhận định của Bộ Tư pháp, việc dồn 2 việc có tính chất khác nhau là hộ tịch và tư pháp cho 1 chức danh công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã cũng dẫn đến thiếu tính chuyên nghiệp, không đáp ứng kịp thời đề nghị của người dân.

Những kết quả đạt được trong những năm qua cho thấy, công tác hộ tịch ngày càng khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối với quản lý quốc gia và tầng lớp, góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền, ích lợi hợp pháp của công dân. 475 quyển; Sổ đăng ký hôn phối 454. Quang Minh. Trải qua các thời kỳ phong kiến, thực dân, hộ tịch luôn gắn liền với vấn đề quản lý con người, bên cạnh vấn đề quản lý đất đai (“đinh”, “điền”) - là hai vấn đề luôn được quan tâm thực hành một cách bài bản, có hệ thống.

V. Theo ý thức Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được ứng dụng ở Nam kỳ, Hoàng Việt hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc kỳ, vẫn tiếp tục được áp dụng ở Việt Nam.

975 quyển. Thứ nhất, hệ thống văn bản quy phạm luật pháp về hộ tịch tuy nhiều, nhưng chủ yếu là Nghị định, Thông tư, chưa có đạo luật riêng về hộ tịch, nên hiệu lực thi hành còn hạn chế; quy định trong nhiều văn bản dẫn đến phức tạp, khó ứng dụng đối với người dân và cơ quan đăng ký hộ tịch.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được quốc gia ta nối duy trì và phát triển. Điều đó gây ảnh hưởng đến uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế”. Bên cạnh đó, tình trạng lợi dụng việc đăng ký hộ tịch (khai sinh, khai tử…) nhằm mục đích cá nhân chủ nghĩa, trục lợi hoặc trốn tránh luật pháp, gây phức tạp về thứ tự an ninh từng lớp có dấu hiệu gia tăng.

Tại Tờ trình Chính phủ về dự án Luật Hộ tịch, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường khẳng định: “Những bất cập, hạn chế trên đây vừa ảnh hưởng đến việc thực hành quyền, ích hợp pháp của công dân, gây khó khăn, quấy rầy cho người dân, vừa ảnh hưởng đến chất lượng đăng ký và quản lý hộ tịch, làm giảm hiệu quả công tác quản lý dân cư, quản lý nhà nước và từng lớp.

Thực hiện các quy định của Bộ luật, Luật, Nghị định của Chính phủ, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở nước ta đã có những bước phát triển tương đối ổn định, đạt được những kết quả cụ thể như: công tác xây dựng thể chế được tăng cường với nhiều văn bản quy phạm luật pháp đã được ban hành; hệ thống cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch và đội ngũ cán bộ làm mướn tác hộ tịch từ Trung ương đến cấp xã được củng cố, kiện toàn một bước; dữ liệu hộ tịch được hình thành với hệ thống sổ sách về hộ tịch được lưu trữ, dùng lâu dài; cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký và quản lý hộ tịch được đẩy mạnh, ngày một tạo tiện lợi cho người dân trong đăng ký hộ tịch; công tác tuyên truyền, phổ thông pháp luật hộ tịch ngày một được quan tâm; việc ứng dụng công nghệ thông báo trong đăng ký hộ tịch được khai triển ở một số địa phương; đăng ký hộ tịch có nguyên tố nước ngoài có nhiều chuyển biến tích cực.

Dự thảo Luật không quy định thẩm quyền, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch, nuôi con nuôi – là những vấn đề tuy có hệ trọng đến lĩnh vực hộ tịch – nhưng được Luật quốc tịch Việt Nam, Luật Nuôi con nuôi điều chỉnh.

Do luật pháp quy định mỗi sự kiện hộ tịch được ghi vào một sổ riêng như: Sổ đăng ký khai sinh, Sổ đăng ký thành thân, Sổ đăng ký khai tử, Sổ đăng ký nuôi con nuôi v. 500. Ngày 8/5/1956, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 764/TTg kèm theo Bản Điều lệ hộ tịch; ngày 16/1/1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 04/CP, kèm theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mới thay thế.

Bị áp lực vì quá nhiều loại sổ sách, giấy má  Theo nhận định của Bộ Tư pháp, trong bối cảnh giang sơn bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày một sâu rộng, với việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế càng ngày càng gia tăng thì công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã diễn tả nhiều hạn chế, bất cập.

Cùng với đó, mỗi người dân hiện đang phải tự lưu giữ, bảo quản nhiều loại giấy má hộ tịch như Giấy khai sinh, Giấy chứng thực kết hôn, Giấy khai tử, Giấy chứng nhận nuôi con nuôi v.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét